Thứ Hai, 1 tháng 12, 2014

Magic 1.


PHẦN I


Thy sweet magic brings together What stern Custom spreads afar;
All men become brothers Where thy happy wing-beats are.

(Pháp Thuật ngọt ngào kết hợp Tục lệ khắc nghiệt cùng lan xa;
Tất cả trở thành huynh đệ cùng vỗ cánh hạnh phúc về nhà…)

- Johann Christoph Friedrich von Schiller -


Enter these enchanted woods, You who dare.
Hãy bước vào khu rừng đam mê này, người có dám không…

– George Meredith -


(Ps : Ôi, thơ hỏi thở, ngoài tầm tay, y như mây trời í…)

1.


Nếu ai đó dám thông báo với quý cô Arian Whitewood rằng, thực hành pháp thuật trong thuộc địa Massachusetts vào năm 1689 chắc chắn là thử thách liều lĩnh, cô sẽ cười vào mặt họ với tất cả sự ngạo mạn muôn thuở của tuổi hai mươi. Bất kỳ ai, tuy vậy, sẽ không bao gồm cha dượng của cô, người cô thầm giữ trong lòng rất nhiều sự tôn trọng và một ít cảm xúc khoa trương. Thế nên cô ngồi trong chiếc ghế có tựa lưng làm bằng những song gỗ, đối diện lò sưởi bằng đá, đôi tay xếp kín đáo trên lòng, và với đôi mắt mở to, cô lắng nghe bài công kích của ông chống lại những người ủng hộ quỷ Satan và pháp thuật hắc ám.
Bài diễn văn nhắc lại của ông dường như gây bối rối cho ông nhiều hơn gây cho cô. Ông bám chặt lấy quyển sách kinh mỏng trong một tay và làm chộn rộn mái tóc xám chì của ông bằng tay kia. Ánh mắt ông chú mục vào một điểm chính xác ngay trên đầu cô.
Arian uốn cong đôi giày để gõ một nhịp điệu vui vẻ trên sàn cát mới khi cha dượng của cô nói say sưa về vài mụ bò cái chán ngấy đã từ chối trao tặng bất kỳ thứ gì ngoại trừ sữa bị vón cục cho Goody Hubbins. Khi cô liếc nhìn cây chổi liễu gai đang dựa vào lò sưởi một cách vô tội, môi cô kéo căng với ký ức thích thú.
“Arian!” Marcus Whitewood gầm lên, đôi mắt màu xanh đã bị mờ của ông bắt giữ ánh mắt cô. “Con có nghe một từ nào ta vừa nói không vậy? Con không nhận ra linh hồn con ở trong sự nguy hiểm nghiêm trọng sao, nhóc?”
Cô nuốt xuống tiếng thở dài. “Tha thứ cho con, Cha Marcus. Suy nghĩ của con đã đi vẩn vơ. Hãy cầu nguyện tiếp nào.”
Sự từ bỏ chán chường của cô gởi bàn tay của Marcus bắn xuyên qua tóc ông lần nữa. “Mới hôm qua thôi Goodwife Burke đã loan báo rằng Charity của bà ấy đang đọc sách giáo lý hỏi đáp khi con vượt qua bằng cửa sổ và cô gái đã chết ngất.”
“Ngất vì buồn chán thì thích hợp hơn,” Arian lầm bầm bên dưới hơi thở. Cô không dám kể với Marcus rằng Charity-mặt-ngựa đã đến đập dồn dập vào cửa nhà họ chỉ cách đó hai đêm, nài nỉ Arian đoán tương lai cho cô ta qua hình thể từ những lá trà trong tách.
“Ta không chỉ trích con mà không có lý do, con gái. Nhưng ta nghĩ con an toàn hơn khi cảnh giác về những tin đồn trong làng. Ta không chỉ gặp rắc rối với mỗi linh hồn con không đâu.”
Arian rên rỉ. “Con sẽ không bao giờ là một người Thanh Giáo* và họ biết điều đó. Con chỉ tham gia những cuộc hội họp lê thê của họ để làm cho cuộc sống dễ dàng hơn cho cha thôi. Họ ghét con từ giây phút con đặt chân đến Gloucester.”
(*Puritan – Thanh Giáo là một nhánh tách từ Giáo Hội Anh theo đường lối Kháng Cách với phần lớn tín đồ là các trí thức cải cách, xuất hiện từ thế kỷ 13, nhưng hùng mạnh vào 16-17, có tư tưởng chống lại Giáo Hội Anh cũng như nền Quân Chủ, là nhân tố chính dẫn đến nội chiến Anh vào thế kỷ 16, sau đó bị tàn sát và trục xuất khỏi Anh, họ chuyển đi nhiều nước ở Châu Âu và Mỹ, hùng mạnh nhất là thuộc địa vịnh Massachussetts ở XVII. Thanh giáo là nền tảng để Martin Luther (giáo sĩ Đức – XVI, hem phải Martin Luther King của Mỹ - XX đâu nhé) lập nên giáo hội Tin Lành ở châu Âu, và Thanh giáo cũng ảnh hưởng rất lớn trên sự hình thành nền dân chủ của nước Mỹ. Sau vụ án xử các phù thuỷ ở Salem-1690s, và cung cách cai trị quá nghiêm khắc ảnh hưởng tiêu cực đến người dân, quyền lực và ảnh hưởng của Thanh giáo ngày càng sa sút. Đến nay hầu như không còn – đọc và tóm lược từ Wikipedia, không hiều cho lắm, những tôn giáo có dính tới Chúa hơi bị loạn xà ngầu, đấy là mềnh theo đạo Công Giáo đấy!!!)
Vẻ nghiêm nghị của Marcus dịu đi. Ông nhớ khoảnh khắc sống động ấy, dù đã xảy ra trên mười năm rồi. Ông đứng trên bến tàu, siết chặt chiếc nón trong tay cho đến khi nó không còn sửa chữa được nữa. Một lời cầu nguyện thầm lặng đã tự ý vươn lên trên đôi môi ông khi một ảo ảnh nhỏ xíu trong chiếc áo choàng không tay màu đỏ tươi đang đi thơ thẩn xuống cầu tàu, bám chặt chiếc va-li với sự tự tin buồn chán của một người quen du hành.
Những lời chào mừng đã diễn tập của ông nghẹn lại trong cổ khi kẻ nhỏ bé kiệt sức kia quan sát ông từ chân đến đầu và ra lệnh trong một giọng trầm hai quãng tám, quá trầm cho một vóc người nhỏ xinh. “Mama của tôi ở đâu? Bà ấy lại chạy trốn lần nữa sao?”
Con gái kế của ông đã lớn thêm vài inch kể từ lúc đó, nhưng chất giọng khàn khàn của cô và đôi mắt sẫm màu sinh động có thể vẫn làm cho một người đàn ông nuốt mất từ ngữ của mình.
Cô khoanh tay trước ngực trong một cử chỉ chống đối mà Marcus đã trở nên quá quen thuộc. “Đó là do sự thành thạo tiếng Pháp của con và chiếc váy lót xếp nếp mà họ không thích. Bà ngoại đã tin rằng một đứa trẻ du hành nên ăn diện đẹp.”
“Bà ngoại con cũng tin vào ma thuật nữa, cô trẻ à.” Ông lúc lắc ngón tay trỏ vào cô. “Bà ấy là một người phụ nữ Pháp lớn tuổi kỳ dị đã đầu độc trí óc ngây thơ của con với tà thuật của bà ta.”
“Pháp thuật,” Arian cãi. “Bà ngoại là một người Ki-tô hữu*. Bà đã tan vỡ trái tim khi gởi con đi. Bà sống chưa đầy một năm sau khi con rời đi.”
(*Christian : Người Ki-Tô hữu là một cách tuyên xưng đức tin của tín đồ tin vào Chúa Jesus  bao gồm : Chính Thống giáo, Công-Giáo, và các nhánh của đạo Tin Lành. Ki-Tô Giáo – Christianity có từ thế kỷ thứ nhất sau công nguyên. Cũng có những đạo cổ xưa hơn nhiều cũng tin theo giáo lý Cựu Ước và luật Moses, nhưng coi Jesus chỉ như một nhà tiên tri như những nhà tiên tri khác mà Chúa gởi đến. Cụ Google nói thế nhưng từ nào tới giờ mềnh cứ nghĩ Christian là đạo Tin Lành đấy ạ, đau cả đầu! – Sẻ)
Arian chớp mắt xua đi những dòng lệ nóng bỏng. Bà ngoại thân yêu, mũm mĩm của cô không biết là mình đã gởi Arian cho người cha dượng nghiêm khắc mà bà chưa từng gặp mặt và một người mẹ đã chết trước khi cô đến.
Marcus nhấc cằm cô lên bằng một ngón tay, ép cô nhìn vào mắt ông. “Ta đã hứa với mẹ con rằng ta sẽ trao cho con một mái nhà và một cái tên. Ngay cả khi Lilian đã quá ốm yếu để nói chuyện mà không ho ra máu, suy nghĩ của cô ấy vẫn hướng về con. Cô ấy đã đặt rất nhiều hy vọng về việc xây dựng một cuộc sống ở nơi này cho cả ba chúng ta.”
Nụ cười bâng khuâng của ông trao cho Arian một ý niệm mơ hồ về sự tôn kính đã kéo người mẹ phù phiếm của cô đến với người đàn ông đơn giản, khắc kỷ này. Cô quay mặt đi, tự biết mình là một kẻ xâm nhập vào niềm đam mê dành cho một phụ nữ đã mất mà Arian hầu như không biết và chưa bao giờ yêu quý.
Marcus tằng hắng một cách thô lỗ. “Con là một kẻ ngây thơ, Arian. Một mục tiêu dễ dàng cho quỷ dữ. Hắn có thể lợi dụng những liều thuốc và sự giả vờ ngây ngô của con. Ta biết khuynh hướng của con là vô hại, nhưng dân làng thì không. Họ nhìn thấy một cô gái bướng bỉnh rất khác biệt so với họ và điều đó khiến họ e ngại.”
“Nhưng con không pha chế liều thuốc nào từ khi cha thiêu cháy chân chuột tán bột của con và đổ hết máu dơi của con đi rồi,” Cô cam đoan với ông một cách nghiêm túc.
Ông nhún vai và đặt một bàn tay vững vàng trên vai cô. “Cho phép ta cầu nguyện cho linh hồn con, con gái. Chúng ta hãy quỳ gối và xin Đấng Toàn Năng thanh lọc con khỏi những hạt giống tà thuật mà bà ngoại con đã vun trồng trong tim con.”
Ngay cả khi cô ngoan ngoãn khuỵu gối, trái tim của Arian vẫn thét lên, là pháp thuật chứ!
Biết rằng chống đối là vô ích, cô sắp xếp những lớp váy để lót êm cho đầu gối vì thử thách này có thể kéo dài trong nhiều giờ. Marcus thanh thản tiến vào một bài kinh cầu đều đều, lập lại hết lời cầu nguyện này đến lời cầu nguyện khác từ quyển sách mỏng. Một dòng mồ hôi trườn xuống cạnh sườn của Arian bên dưới lớp vải bông pha len gây ngứa ngáy của chiếc váy.
Cô mở hé một mắt tìm thấy đầu của Marcus cúi xuống và mắt ông nhắm chặt. Háo hức thử nghiệm tài năng mới phát hiện của mình, cô nheo mắt, tập trung tất cả sự chú ý vào một bộ chân nến bằng thiếc đặt trên mặt lò sưởi. Chiếc chân nến vẫn chỉ nằm yên ở đó – một thách thức của thứ kim loại vô tri giác. Liều lĩnh chứng minh sức mạnh là chuyện của cô, nhưng không vui chút nào khi thú nhận thất bại, Arian luồn đôi tay đã xếp gọn của cô hướng vào trong để túm lấy chiếc bùa ngọc lục bảo. Những ngón tay cô bắt đầu ngứa ran.
Một khe hở chầm chậm dãn rộng giữa chân đế lấp lánh của giá nến và chiếc kệ gỗ. Nụ cười tinh nghịch làm cong đôi môi của Arian. Cô đu đưa đầu cô từ bên này sang bên kia điều khiển chiếc chân nến nhảy tung tăng.
“Arian!”
Tiếng gầm của Marcus làm vỡ tan sự tập trung của Arian. Chiếc giá nến khổng lồ đâm sầm vào lò sưởi chỉ cách đầu gối đang quỳ của ông vài inch.
Arian thở gấp. “Thứ lỗi cho con, cha Marcus… Con không bao giờ có ý định…”
Lời bào chữa của cô tàn dần khi ông trườn ra xa, gương mặt tái mét. “Con cố làm hại ta sao, con gái?” Vung một bàn tay ngang qua mắt, ông la lên. “Ta không thể chịu đựng được điều này.”
Ông lao ra khỏi cửa vào trong bóng đêm đầy gió, bỏ lại Arian đang tự hỏi liệu cô có vừa khiến mình bị xa lánh hay rốt cuộc sẽ gắn bó với vùng đất tàn nhẫn này.
Vầng trăng đã vươn cao trên bầu trời trước khi Arian nghe tiếng bước chân đáng sợ của Marcus trên cầu thang. Cô ngồi trước chiếc-gương-đứng trong căn gác xép mờ tối, đang chải khối tóc loăn xoăn của cô. Chiếc lược mắc vào một cụm tóc rối đau nhói khi cửa phòng ngủ của Marcus hé mở rồi đóng lại với một thịch thê lương.
Nhấc ngọn nến lên, Arian bước đến ô cửa sổ kính đang run rẩy, đôi mắt cô dõi vào bóng đêm tìm kiếm một sự khuây khoả không tên. Đặt cây nên bên cạnh, cô cuộn người trên bậu cửa hẹp và kéo chiếc mền bông đã mòn xơ quanh vai. Những đám mây trôi ngang qua vầng trăng khiến cô ao ước có thể bay theo chúng.
Cô đã mong muốn pháp thuật gần hết đời cô, tin rằng sức mạnh của nó sẽ làm dịu đi nỗi khao khát trong linh hồn cô. Một nỗi khát khao được mài bén qua những năm tháng liên tục di chuyển từ gia đình này đến gia đình khác theo sở thích bất chợt của các tình nhân giàu có của mẹ cô. Sự ổn định duy nhất của cô là một quyển sách mòn vẹt về những câu chuyện thần tiên mà cô nhận được vào sinh nhật lần thứ ba từ người bà ngoại mà cô chưa gặp mặt.
Cô thích tự đắm chìm vào những vương quốc kỳ ảo được cai trị bởi những pháp sư, phù thuỷ, những hoàng tử có mái tóc đen như quạ, nhiều hơn là quay cuồng vào những bữa tiệc điên rồ thường xuyên vang lên những tiếng cười như chuông ngân của mẹ cô, tiếng leng keng của những ly rượu vang, và tiếng rì rầm của những người đàn ông xa lạ.
Tiếng gầm gừ điên dại của những giọng nói gây gỗ đã làm tan vỡ giấc ngủ của cô thường xuyên hơn, để lại cô run rẩy trong bóng tối và cố nhớ ra mình đang ở đâu. Ngay sau khi cô lóng ngóng thắp sáng một ngọn nến và lật dở những trang giấy có gáy mạ vàng của quyển sách yêu quý, cô sẽ bắt đầu nhớ không chỉ cô đang ở đâu mà còn cô là ai một cách rõ ràng. Hoặc ít nhất là cô thuộc về ai.
Thông thường thì sau một đêm như thế, mẹ cô sẽ xuất hiện, vẻ xinh đẹp thoát tục của bà sẽ được tôn lên bởi sự xanh xao bi kịch, và thông báo với Arian rằng đã đến lúc đóng gói đồ đạc. Trước khi ngày trôi qua, Arian sẽ ngụ tại một căn nhà khác và mẹ cô sẽ ở trong giường của một người đàn ông khác.
Arian tỳ trán vào lớp kính lạnh lẽo. Quyển sách quý giá của cô về những câu chuyện thần tiên đã bị thất lạc trong chuyến hải hành kiệt sức đi đến vùng thuộc địa, và mẹ cô bây giờ đã yên giấc vĩnh hằng bên dưới lớp đất phủ đầy đá của vùng Massachusetts. Tất cả những gì còn lại từ quá khứ của cô là một tấm bùa hộ mạng bằng ngọc lục bảo – một món nữ trang rẻ tiền mà cô luôn lưu tâm đến bằng sự trộn lẫn kỳ lạ giữa kiêu hãnh và khinh miệt.
Arian kéo tấm bùa hộ mạng ra khỏi chiếc áo ngủ, nhìn ngắm nó với sự tôn trọng mới tìm thấy. Cho đến chiều hôm đó, trong khoảng rừng thưa, những nỗ lực vụng về của cô trong việc hô thần chú đều thất bại. Cô run rẩy trước ký ức, với sự trộn lẫn của nỗi sợ và niềm vui thích. Sức mạnh nguyên sơ búng lách tách trên những sợi dây thần kinh của cô giống như được hôn bởi một ánh chớp. Có lẽ tài năng thiên phú của cô đối với phép phù thuỷ chỉ cần một tiêu điểm mới. Cô đã đọc nhiều truyện kể về bùa mê và phù chú, những thứ chỉ cần thiết cho đến khi phù thuỷ tập sự phát triển niềm tin với món quà của cô ấy.
Arian ao ước khám phá thêm những điều kỳ diệu khác mà cô có thể có khả năng, nhưng sau lần bắt gặp tai hại với Marcus, cô sợ gọi lên những sức mạnh của cô mà không có lý do thúc ép nào.
Cô khép bàn tay bao quanh tấm bùa, cầu mong nó có thể là một nguồn an ủi cũng như sự ganh đua.
Đôi mắt cô chập chờn khép lại khi cô vùi sâu vào trong tấm mền bông. Nhưng thay vì mơ về một hoàng tử tóc đen như quạ, người sở hữu một sức mạnh bẻ gãy niềm say mê tăm tối của Gloucester bằng một nụ hôn thuần khiết, cô lại mơ thấy một người đàn ông với mái tóc có màu của ánh nắng và đôi mắt lạnh băng sáng lấp lánh.
Cô rên rỉ khe khẽ trong giấc ngủ khi bấc đèn của ngọn nến làm từ mỡ động vật cháy xèo xèo trong sự nhỏ giọt của nó và dìm chính nó vào trong bóng tối.


Nhà nguyện mát rượi, sức nóng ngột ngạt của mùa hè đã bị chế ngự bởi những ngọn gió mùa thu. Arian vuốt phẳng những nếp váy và lén liếc vào người đàn ông bên cạnh cô.
Gương mặt nhìn nghiêng của người cha kế khó hiểu y như trong bữa điểm tâm, khi tất cả những nỗ lực vui vẻ của cô trong cuộc trò chuyện đã bị đẩy lùi bởi vẻ sắt đá trên quai hàm ông. Ông bỏ qua món cháo ngô nóng, nghẹt thở trước món molasses ngọt ngào mà ông vẫn thích và đã để lại nguyên vẹn không động đến trên cái thớt gỗ của ông. Uống cạn cốc nước, ông đứng lên và bắt đầu đến nơi thờ phụng mà không nói một từ, khiến cho Arian không có lựa chọn nào khác ngoài việc vỗ vội cái mũ bonnet lệch, màu trắng lên đầu và chạy lóc cóc theo sau ông.
Giọng của Đức cha Linnet vang vang, âm sắc thu hút của nó không giảm đi khi hắn đắm chìm trong ba giờ thuyết giáo. Khi hắn nhấn mạnh những lời đe doạ về sự trừng phạt bốc lửa bằng cách đấm sầm sầm nắm tay trên bục giảng, từ ngữ của hắn lần đầu tiên thấm xuyên qua sự đăm chiêu bực dọc của Arian.
“Mãi mãi, các đồng hữu của tôi, đấng Toàn Năng đưa chúng ta đến Gloucester. Ngài đã cứu chúng ta khỏi quỷ dữ và giải thoát chúng ta khỏi những cám dỗ của cuộc sống thoải mái, mua chuộc bằng máu của niềm tin. Ngài mang chúng ta vượt qua biển cả để đến vùng đất này. Ngài bảo vệ chúng ta khỏi bão dông và bệnh tật.”
Arian nghĩ về sự nhẫn tâm của mẹ cô, người đã chết ngạt bằng máu của chính bà.
“Nhưng bất cứ nơi nào có những người sùng đạo trên trái đất này, thì ma quỷ cũng cám dỗ họ.” Ông ta hạ thấp giọng thành một tiếng thì thầm giả dối vẫn có thể nghe rõ khắp sảnh đường. “Không bao giờ quên lời Chúa đã viết cho Job : ‘Khi các con trai của Chúa đến để hiện diện trước ngài, Satan cũng đi cùng họ.”
Arian liếc nhìn những gương mặt mê đắm quanh cô, cả sự căm ghét lẫn đố kỵ đều có thể tìm một thông điệp đáng giá trong điệu bộ màu mè của vị linh mục.
“Đó là bởi vì chúng ta xác thực rằng Satan gởi bầy tôi của hắn lẫn vào trong chúng ta. Satan rất thông minh. Hắn biết những thứ cám dỗ chúng ta. Tôi phải nhắc nhở các bạn rằng Lucifer* là thiên thần xinh đẹp nhất trên thiên đàng. Không một ngôi sao nào chiếu sáng lấp lánh hơn được gương mặt rạng ngời của Lucifer. Đừng bao giờ quên các bạn sẽ bị lôi kéo bằng cạm bẫy xinh đẹp. Satan sẽ gởi sự xấu xa vào trong chúng ta để dẫn chúng ta lạc lối sao? Hắn sẽ gởi những quái vật ghê tởm và tai ương cho gia súc của chúng ta và ném đám trẻ ngây thơ của chúng ta vào những cơn choáng ngất sao?”
(*Lucifer : Vị tổng lãnh thiên thần sa ngã, bị Chúa đuổi khỏi Thiên Đường và trở thành Satan – Nhớ theo Kinh Thánh Cựu Ước –Sẻ)
Một tấm màn im lặng báo điềm gở phủ lên sảnh đường. Mọi người quay nhìn lẫn nhau, mắt họ dò hỏi.
“Không!” Tiếng của vị linh mục vang lên như tiếng thét. “Đó là sự xinh đẹp hoà lẫn trong chúng ta. Và đó cũng là ác quỷ hoà lẫn trong chúng ta. Có ma quỷ ở nơi này.”
Một tiếng hổn hển tập thể dội lên từ các hàng ghế. Arian hít vào một hơi thở rời rạc, nhưng tìm thấy bản thân không thể thả lỏng khi Đức cha Linnet nhìn thẳng qua những mái đầu phía trước cô, làm tê liệt cô bằng ánh mắt của ông ta.
“Các thiên thần của Satan hiên ngang đi giữa chúng ta. Những sinh vật hoang dã và tinh nghịch bay lượn trong đêm, hú lên với ánh trăng. Những công cụ đơn giản đó khiêu vũ với cuộc sống của chính chúng. Chúng ta chỉ có thể từ chối nó. Satan và tôi tớ của hắn phải đi khỏi Gloucester.” Rồi dịu giọng xuống, “Bây giờ, hãy cúi đầu và lập lại lời cầu nguyện với Thiên Chúa.”
Arian ngồi đông cứng, hơi thở rỉ ra khỏi thân thể cô khi đầu của Marcus cúi xuống với một thái độ dứt khoát đáng sợ. Chỉ một mái đầu vẫn còn vươn thẳng. Chỉ một cặp mắt vẫn còn mở rộng. Đức cha Linnet đứng cao và thẳng tắp tại bục giảng, đôi mắt như muốn nuốt sống cô trong sự đói khát báng bổ. Lời cầu kinh tuôn tràn trôi chảy từ môi trong sự nhạo báng rõ ràng qua ánh mắt như thiêu đốt của hắn.
Arian nuốt nghẹn một tiếng khóc, sự kinh hoàng dâng lên trong cổ họng cô. Cô đứng lên và chạy như bay xuống lối đi dài giữa những hàng ghế, thầm tạ ơn sự im lặng giả tạo phủ trên giáo đoàn và một giọt nước mắt đơn lẻ vỡ tung trên đôi tay đang chắp lại của Marcus Whitewood.
Arian chạy thẳng về ngôi nhà duy nhất mà cô biết trong vùng đất xa lạ này. Ngôi nhà lợp ván của Marcus nằm yên bình trong giữa khu rừng thưa, vẻ lãnh đạm sáng lấp lánh của ô cửa sổ kính như đang chế diễu tâm trạng kích động của cô.
Cô ôm chặt khung sườn đau đớn khi cô chạy bay lên những bậc thang đến căn gác xép, gần như mong đợi nghe thấy tiếng gầm giận dữ của đám đông phía sau cô.
Ánh nắng vàng ươm chiếu xuyên qua cửa sổ, xua tan tình trạng tê cóng khỏi trí óc của Arian. Cô sải bước trong căn gác hẹp, xem xét lại mọi mảnh ý tưởng mà cô từng lo lắng về nhà truyền giáo đẹp trai vừa đến ngôi làng của họ vào mùa xuân năm trước.
Hắn nói chuyện với cô thường xuyên khi cô rời khỏi giáo đường, túm lấy tay cô trong lòng bàn khô ấm của hắn. Charity Burke đã cười điệu mỗi khi hắn mỉm cười với cô ấy, trong khi Goodwife Burke thì thầm với Arian rằng hắn đã nhận vài lời mời đám cưới từ khi đến Gloucester. Bây giờ Charity đã có những cơn choáng ngất và gọi tên Arian như là kẻ đã hành hạ cô ta.
Đôi tay của Arian run lên với cơn giận dữ bất lực. Cô phải khâm phục tính xảo trá của Linnet khi tạo ra lời buộc tội của hắn trước kinh cầu nguyện. Mọi người trong Gloucester biết rằng một phù thuỷ không thể đọc thuộc lòng kinh cầu nguyện thành lời. Trong quá khứ, hàng trăm lần cô đã lập lại lời cầu nguyện mong người ta quên đi những tin đồn về sự bỏ chạy của cô khỏi nhà thờ đã được lan truyền bằng đôi cánh của lòng ác tâm.
Nhưng lạy Chúa cứu thế, tại sao Linnet lại muốn tiêu diệt cô? Hắn thật sự tin cô là tôi tớ của Satan sao?
Khuỵu gối xuống bên cạnh giường, Arian bới trong chiếc hộp đựng đồ văn phòng phẩm để tìm một mảnh giấy viết và một chiếc bút lông ngỗng. Thời gian là tất cả những gì cô có và nó đang trôi vùn vụt giống như cát trong chiếc đồng hồ cát. Bị bắt giữ bởi linh cảm, cô bắt đầu viết nguệch ngoạc như điên, ngừng lại nhay nhay cán bút trong lúc cô tìm kiếm trong trí những từ có âm vần với “sa giông”
Arian đang đứng bên cửa sổ khi Marcus vòng đến khúc quanh, vai ông nghiêng một góc đau đớn của sự thất bại. Sau vài phút, những bước chân nặng nề của ông vang lên trên những bậc thang. Sau khi cánh cửa hé mở, Arian quay lại đối diện với ông.
Ông chú mục vào sàn nhà, đôi tay buông thỏng hai bên sườn. “ Ta đã tìm kiếm sự giúp đỡ của Đức cha đêm qua. Ta không biết ông ấy sẽ đưa lời xưng tội của ta ra công khai.”
“Có vẻ như đức cha tốt lành đã làm tất cả chúng ta ngạc nhiên.”
Marcus nhấc đầu lên. Đôi mắt màu xanh nhạt của ông thẫm lại bởi sự day dứt. “Ống ấy đã thuyết phục Cảnh sát Ingersoll không đến bắt con. Ông ta đồng ý ta nên là người đưa con đến xét hỏi. Dân làng tin ta.” Gánh nặng niềm tin của họ đã hạ thấp bờ vai ông xuống thêm một inch nữa.
Arian khiếp sợ việc trả lời ông, những vẫn buộc phải hỏi. “Cha nghĩ con độc ác sao?”
Ông không thể nhìn vào ánh mắt kiên định của cô. “Mẹ con rất bướng bỉnh trước khi bà ấy khám phá ra ân sủng của Chúa.”
Arian khịt mũi. “ Ân sủng của Chúa hẳn là cực kỳ hào phóng nếu như Ngài tha thứ những tội lỗi của bà ấy.”
“Đừng chết vì báng bổ, nhóc. Hãy nhớ những điều răn. Con phải kính trọng cha và mẹ con chứ.”
“Con sẽ hạnh phúc được kính trọng cha con nhiều hơn nếu mẹ con không phiền cho con biết tên ông ấy.” Cô không thể kháng cự việc trao cho tấm bùa một sự mơn trớn nhẹ khi sự đau đớn xưa cũ và quen thuộc phồng lên trong cổ họng cô. “Vậy cha đã thấy con không độc ác, chỉ bướng bỉnh thôi. Như mẹ con vậy.”
“Ta nghĩ con đang chơi một trò trẻ con mà bà ngoại con đã dạy con. Nhưng ta biết con có những quyền năng. Và những quyền năng như thế không thể đến từ Chúa.” Giọng ông vỡ ra bên dưới sự căng thẳng. “Sách Thánh đã nói rõ ràng về chủ đề pháp thuật.”
“Con quen thuộc với lời trích dẫn từ thánh kinh mà. ‘Ngươi không cho phép một phù thuỷ được sống’.” Arian đặt bàn tay trên trán ông, nghĩ rằng thật kỳ lạ khi cô là người an ủi ông. “Chúng ta sẽ đi chứ?”
Ông nhấn nhẹ đôi môi trên tóc cô. “Đừng khóc, nhóc. Ta không thể chịu đựng được điều đó.”
“Đừng phi lý thế, cha Marcus. Phù thuỷ đâu có khóc.”

Đôi môi run rẩy của Arian làm ngược lại lời nói của cô.



Magic-prologue

MỞ ĐẦU



Giới truyền thông không gán cho căn penhouse rộng bốn ngàn feet vuông nằm trên đỉnh của tháp Lennox là một pháo đài mà chẳng vì điều gì, Michel copperfield nghĩ, khi cậu đổi thang máy lần thứ ba, chèn mã an ninh vào bảng điện, và ấn nút lên tầng chín mươi lăm.
Cửa thang máy trượt mở với một tiếng rít. Chống lại nỗi cám dỗ nhìn ngắm cảnh đêm huy hoàng trải dài đến đường chân trời Manhattan, Copperfirld sải bước qua lớp nhung mềm của tấm thảm màu be dày và đẩy cánh cửa mở vào phía cuối của căn hộ.
“Vào đi” một giọng nói khô khan cất lên. “Đừng bận tâm đến việc gõ cửa.”
Copperfirld đập nhẹ ấn bản buổi sáng của tờ Times vào chiếc bàn mạ crôm và xỉa một ngón tay vào tiêu đề. “Tớ vừa trở về từ Chicago. Thứ này mang ý nghĩa quái gì thế?”
Một cặp mắt màu xám băng giá chuyển từ con trỏ nhấp nháy trên màn hình computer đến trang báo nhàu nhĩ. “Tớ nghĩ nó chẳng cần lời giải thích nào hết. Cậu không thể là cố vấn PR của tớ suốt thời gian qua mà lại không biết đọc.”
Copperfield trừng mắt nhìn người đàn ông mà cậu đã gọi là bạn trong hai mươi lăm năm và là xếp của cậu trong bảy năm. “Oh, tớ có thể đọc rất tốt. Ngay cả ý ngầm giữa các hàng chữ.” Để chứng minh anh chộp lấy tờ báo và đọc. “Tristan Lennox – người sáng lập, CEO*, và cổ đông chính của Lennox Enterprises – treo giải một triệu dollar cho người có thể chứng minh pháp thuật tồn tại bên ngoài ranh giới của khoa học. Cuộc thi công khai diễn ra vào sáng ngày mai tại sân trong của toà cao ốc Lennox. Chàng tỉ phú trẻ lập dị chỉ tìm kiếm những ứng viên nghiêm túc.” Copperfield xoắn tờ báo như thể đang siết cổ xếp của cậu trong dạng hình nộm. “Ứng viên nghiêm túc ư? Tại sao à, cậu sẽ có mọi tổng đài đường dây nóng siêu linh, kẻ lừa đảo, và phế vật-Geraldo ở ngưỡng cửa nhà cậu vào lúc bình minh!”
(*CEO : Chief Executive Officer – Tổng giám đốc điều hành)
“Geraldo đã gọi rồi. Tớ đã cho hắn số điện thoại nhà cậu.”
“Sao cậu có thể thoải mái đến thế khi tớ gởi fax mòn ngón tay đến tận xương để cố gây dựng danh tiếng cho cậu ?”
Vẻ thích thú kỳ lạ lấp lánh trong đôi mắt được che dấu của Tristan. “Tớ sẽ tặng cậu món quà trị giá mười nghìn dollar nếu cậu có thể khiến họ ngừng gọi tớ là ‘chàng tỉ phú trẻ’. Nó làm tớ cảm thấy giống như Bruce Wayne* mà không có chiếc xe Batmobile* ấy. Và tớ vừa bước qua tuổi ba mươi hai rồi. Tớ hầu như không đủ tư cách là ‘chàng trai trẻ’ chút nào nữa.”
(*nhân vật chính trong film Batman và chiếc siêu xe của ông ấy –Sẻ)
Sự chú ý hay dao động của anh chuyển đến chiếc máy fax. Ánh sáng nhân tạo của màn hình hiển thị hắt vào chỗ hõm bên dưới gò má và ném ra một vầng sáng kỳ quái trên dáng vẻ khắc nghiệt của anh. Khi ngón tay khéo léo của anh ấn nhẹ vào nút gởi bản fax cho phép một cuộc thôn tính một tập đoàn phần mềm hàng triệu dollar. Copperfield muốn giật mớ tóc cột đuôi ngựa bóng mượt của anh trong sự thất vọng.
“Cậu định nuông chiều cái ý thích bất chợt lố bịch này trong bao lâu? Cho đến khi cậu hoàn toàn tiêu diệt uy tín của cậu chăng? Hay cho đến khi mọi người ở New York cười sau lưng cậu?”
“Cho đến khi tớ tìm thấy những gì tớ đang tìm.”
“Cái gì? Hay ai?”
Lờ đi câu hỏi châm chọc của Copperfield như anh đã làm trong mười năm qua, Tristan tắt máy fax và computer với một động tác đơn giản và đứng lên khỏi chiếc ghế xoay.
Khi anh tiến đến bức tường phía bắc, một đường nối không thể nhìn thấy mở ra, để lộ một phòng để quần áo có kích thước gấp hai lần căn hộ thuê chẳng khác gì chuồng bồ câu của Copperfield. Ánh đèn từ những hốc tường trên đường đi chiếu sáng mỗi bước chân đi vào trong căn hầm sâu thẳm. Sợ rằng tiếng nói to ngang qua một khoảng cách như thế sẽ tạo ra một sự dội âm, Copperffield không còn chọn lựa nào khác ngoại trừ đi sát theo sau anh.
Khi Tristan kích hoạt một rãnh treo cà-vạt tự động, Copperfield nói, “Đôi khi tớ nghĩ cậu cố tình phô trương sự thoả thuận. Để giữ mọi người ở ngoài tầm tay, nơi họ không thể làm tổn thương cậu.” Cậu hít một hơi thở vững vàng. “Để duy trì những tai tiếng cũ tồn tại.”
Trong một khoảnh khắc căng thẳng, âm thanh duy nhất là tiếng sột soạt cơ học của những chiếc cà-vạt xoay quanh đường rãnh hẹp của chúng.
Bờ vai của Tristan nhấc lên trong một cái nhún thờ ơ khi anh chọn chiếc bằng lụa có sọc, màu rượu chát, đồng bộ với bộ suit hiệu Armani của anh. “Hạ bệ những kẻ lừa bịp bất tài là một sở thích riêng. Không khác biệt so với việc chơi chứng khoán hoặc sưu tập tranh Picassos.” Anh thắt cà-vạt với hiệu suất của một chuyên gia, bắn cho Copperfield một ánh mắt chế diễu. “Hoặc cặp bồ với những siêu mẫu cuồng ăn cùng với Godiva Chocolateir*.”
(*Một thương hiệu chocolate nổi tiếng của Bỉ từ năm 1926, được đánh giá là ngon nhất thế giới – Sẻ)
Copperfield khoanh tay trước ngực. “Cậu định đặt căn hộ của tớ dưới sự giám sát lần nữa hay cậu chỉ gọi hồn những hình ảnh nhớp nhúa đó trong quả cầu pha lê của cậu? Ít nhất thì tớ cũng còn tặng Chocolate. Như tớ nhớ, người mẫu gần nhất mà tớ giới thiệu cho cậu thì ngay cả đến ‘Thank you, ma’am!’ sau khi ‘wham-bam’ cô ta cũng chẳng có nữa kìa.”
Vẻ mặt của Tristan loé lên thứ gì đó tựa hồ như ngượng ngùng của một người thiếu giữ gìn. “Tớ định nhờ trợ lý của tớ gởi ít bông hoa.” Anh chọn một cặp khuy cài tay áo bằng bạch kim từ một chiếc khay bằng gỗ nhạc ngựa.
“Nếu chuyện một triệu dollar khiến cậu lo lắng, Cop, đừng lãng phí năng lượng của cậu. Tớ là người cuối cùng mong đợi chuyện trao giải.”
“Chà, cậu biết họ nói gì không. Bên trong lồng ngực của mỗi kẻ yếm thế là trái tim của một người lạc quan bị vỡ mộng.”
Tristan lướt qua cậu ta, chỉnh cả hai cổ tay áo và chiếc mặt nạ dửng dưng xa cách của anh lại trượt vững chắc vào chỗ của nó. “Cậu nên biết rõ hơn bất kỳ ai khác rằng tớ đã ngừng tin vào những điều kỳ diệu từ cách đây rất lâu rồi chứ.”
“Vậy thì như anh nói, bạn của tôi.” Copperfield lầm bầm với chính mình. “Như anh nói.”
Cậu nghiên cứu chiếc giá treo cà-vạt với con mắt nheo nheo đầy kinh nghiệm trước khi chọn cái tân thời nhất của nhãn hiệu Brooks-Brother sẽ bổ sung cho đôi mắt cậu. Nhét nó vào túi bộ suit của cậu, rồi xoay người chỉ để khám phá ra rằng, sự ra đi của Tristan đã kích hoạt cánh cửa phòng chứa đồ trượt đóng lại một cách lặng lẽ.
Copperfield chạy ào đến và bắt đầu nện vào chỗ mở rộng liền một mảnh đó bằng cả hai tay. “Này! Ai sẽ đưa tớ ra khỏi chỗ này chứ! Chết tiệt cậu, Tristan! Cái đồ ngạo mạn khốn k…” Một tiếng ho bật cười không thể tin được buột ra khi cậu dựa vai vào cánh cửa. “Chà, mình sẽ bị nguyền rủa mất thôi. Hôm nay còn có thể có điều tồi tệ nào khác sẽ đến nữa chứ?”
Cậu tìm ra ngay sau đó, khi ánh sáng dịu được lập trình chỉ đáp ứng đuy nhất cho sự vào và ra của xếp cậu nhấp nháy, rồi tắt phụp.

***

Cô gái rơi xuống trên cán chổi. Chiếc váy của cô xếp nếp quanh gối, để lộ một cặp bắp chân mảnh dẻ bọc trong đôi tất dài màu đen. Một ngọn gió đi lạc khua xào xạc những chiếc lá khô và gợn lăn tăn mái tóc cô, buộc cô phải phủi lọn tóc sẫm màu khỏi mắt. Gai ốc sởn dọc theo đôi cánh tay cô.
Xua đi màn phủ báo điềm gở của bầu trời, Cô túm cán chổi bằng cả hai tay và đóng chặt mắt lại. Khi cô cố gắng lập lại những từ ngữ ghi nhớ lần nữa, một cơn chuột rút bắn xuống đùi cô, làm vỡ tung sự tập trung của cô. Cô cố hét to lời nguyền, nhưng chiếc chổi chẳng thèm đoái hoài, cho dù chỉ một cái rùng mình tẻ ngắt đáp ứng.
Giọng cô tàn dần thành tiếng thì thầm thất bại. Sự thất vọng làm sưng phồng cổ họng cô, siết chặt lớp màng nhạy cảm cho đến khi những giọt lệ làm cay mắt cô. Có lẽ cô đang lừa dối bản thân. Có lẽ cô đúng là một phù thuỷ thảm hại như cô vẫn luôn sợ hãi.
Cô nới lỏng dải buộc bị kéo căng trên vạt áo trước mộc mạc để mân mê tấm bùa ngọc lục bảo treo lơ lửng bằng sợi dây chuyền vàng thanh nhã. Mặc dù cô luôn che dấu nó khỏi những ánh mắt tọc mạch và lờ đi sự hiện diện của nó ngoại trừ trong những khoảnh khắc cực kỳ phật ý, cô vẫn cảm thấy thôi thúc phải mang nó ngay chỗ trái tim cô, giống như một biểu tượng của sự hổ thẹn.
Sacré Bleu*, tôi chỉ muốn bay thôi mà.” Cô nói khẽ.
(*Tiếng Pháp cổ để chỉ sự ngạc nhiên, hoảng hồn hay bực tức –Sẻ)
Chiếc chổi lắc lư về phía trước, rồi giật mạnh để tạm dừng lại. Tấm bùa nằm lạnh lẽo và dửng dưng trên trái tim đang đập hỗn loạn của cô.
Sợ phải lưu ý đến cảm giác không kiên định của chính mình, cô chậm rãi kéo sợi dây chuyền vàng qua đầu và siết chặt tấm bùa. Nghiêng người qua chiếc cán chổi dạn dày sương gió, cô thì thầm, “Tôi chỉ muốn bay thôi.”
Không có gì xảy ra.
Cô vươn thẳng dậy, lắc đầu trước hành động nực cười của mình.
Cây chổi liễu gai lướt vào trong không trung rồi ngừng lại, để lại cô đang treo lủng lẳng bằng một chân. Chiếc cán chổi rung lên bên dưới cô, cường độ sức mạnh của nó khiến cho lớp lông măng sau gáy cô dựng đứng lên trong sự phấn khích.
“Bay nào!” Cô ra lệnh với xúc cảm.
Chiếc chổi treo lơ lửng giữa không trung trong một cơn run không ngừng nghỉ, rồi tự nhắm thẳng về phía đỉnh của những cây sồi cao chót vót. Nó lao tới một độ cao đến chóng mặt, rồi nhào xuống, kéo lê mông cô trên đất vài feet trước khi bắn vào một tầm cao hoang dại khác.
Cô hò reo trong sự vui thích, từ chối quan tâm đến những hiểm nguy từ việc bay vút lên vòng quanh khoảng rừng thưa trên một cây chổi quét lò sưởi làm bằng cây liễu gai. Cô càng vui cười, cây chổi càng bay nhanh hơn, cho đến khi cô sợ rằng nó hẳn sẽ đâm bổ vào đám rừng thưa và lao đến vầng trăng xa xôi đang lơ lửng trên bầu trời chiều.
Với một nỗ lực to lớn, cô rán sức nhấc bản thân cưỡi lên cây chổi. Cô ngồi lên trong sự cân xứng thoải mái chỉ trong một nhịp tim đập trước khi công cụ vận chuyển ấy lao vùn vụt hướng lên trên song song với cây sồi cao nhất, rồi chúi mũi xuống dưới trong cùng một sự hối hả. Mặt đất vươn tới tông sầm vào gương mặt hốt hoảng của cô.
Cô thở khò khè giống như chú cá tuyết bị mắc cạn, cầu nguyện rằng không khí sẽ rủ lòng thương mà lấp đầy buồng phổi đang căng thẳng của cô. Cuối cùng khi cô có thể thở trở lại, cô nhấc mái đầu đang đập rộn ràng của cô lên để tìm thấy cây chổi đang nằm cách đó vài feet.
Cô phun ra một miệng đầy những chiếc lá vỡ vụn và nhìn trừng trừng vào chiếc cán chổi bất động.
Nhưng sự tức tối của cô đã bị lãng quên khi cô nhận ra hơi ấm dịu dàng đang tràn ngập trong lòng bàn tay cô. Cô mở những ngón tay run rẩy và tìm thấy tấm bùa chìm trong một vầng sáng óng ánh. Miệng cô hé mở trong sự kinh ngạc khi miếng ngọc lục bảo nhấp nháy hai lần như thể để xác nhận bí mật của họ, rồi mờ dần đi trong bóng tối.
Cô bị mê hoăc quá đỗi bởi sự khám phá của cô nên không nhận ra một hình dáng buồn thảm đã bộc lộ bản thân từ bóng tối của khu rừng. Một nụ cười độc ác của niềm vui chiến thắng vặn xoắn vành môi gã khi gã quay trở lại ngôi làng, ánh sáng chập chờn của vầng trăng mới mọc ve vuốt những lọn tóc mỏng manh ánh bạc trên thái dương gã.


Giới thiệu về Breath Of Magic


HƠI THỞ PHÁP THUẬT
(BREATH OF MAGIC - 1996)
Lennox Family Magic quyển 1

Tác giả :
Teresa Medeiros
Chuyển Ngữ :
Se Sẻ Nâu.

Ngày hoàn thành : 22/12/2014

Review :

Chàng tỷ phú trẻ Tristan Lennox, người được cho là chàng trai độc thân sáng chói và khó với tới nhất nước Mỹ, là một kẻ hoài nghi và lãnh đạm. Chàng đã mất niềm tin vào con người và pháp thuật từ khi còn rất trẻ bởi người cộng sự phản bội đã bị băng hoại tâm hồn vì tham lam, muốn giết chàng để độc chiếm Warlock- một phát kiến mới mà hai người đã sáng tạo ra kết hợp giữa pháp thuật và công nghệ hiện đại. Và rồi người bạn và Warlock cùng biến mất, để lại chàng trai trẻ nhiệt huyết đáng yêu bỡ ngỡ với tội danh giết người… Cộng với việc bị bỏ rơi khi còn nằm nôi, chàng đã trở thành một kẻ lãnh đạm, yếm thế, sống một cuộc sống không có tình yêu và cũng không tin vào tình yêu, đoạt lấy mọi thứ mình muốn bất chấp thủ đoạn…
Cô gái mồ côi bé nhỏ Arian Whitewood, một phù thuỷ với tài năng thất thường, sống hiền hoà mộc mạc ở một ngôi làng Thanh Giáo ở thế kỷ 17 với người cha dượng. Ngay khi cô đối mặt với cái chết do bị dân làng kết tội phù thuỷ, Pháp thuật đã đưa cô đến với vòng tay của Tristan Lennox trong thế kỷ 20, một thế kỷ thật kỳ lạ và choáng ngợp đối với cô. Cô bị Tristan thu hút và đã yêu lần đầu tiên trong cuộc đời ngắn ngủi của cô, nhưng tính hoài nghi của Tristan khiến cô đau khổ. Cô không biết làm sao để Tristan tin cô, tin vào câu chuyện hoang đường cách biệt ba trăm năm…
Một truyện tình đẹp như cổ tích và kết thúc cũng đẹp như bản chất của Tình yêu, và họ đã vượt qua được mọi khó khăn và cách trở về thời gian cũng như không gian để đến được với nhau…

Đây là bản dịch phi lợi nhuận, chỉ vì niềm vui và sự yêu thích với những câu chữ và chưa được sự cho phép của tác giả, được chia sẻ ở đây cùng các bạn đồng sở thích đọc sách và yêu thích những chuyện tình cổ tích, mong các bạn đừng mang đi đăng tải nơi khác để tỏ lòng tôn trọng người dịch.
Vì khả năng giới hạn, không thể tránh khỏi có nhiều sai sót, mong các bạn bỏ qua. Cách viết của tác giả này quả là một thử thách về mặt văn phạm vì cách đặt câu quá dài và khó. Vì cố gắng không thay đổi văn phong, nên thật khó để bản dịch không bị lủng củng. Hy vọng các bạn không thấy phiền khi đọc. Chúc các bạn có được những giờ đọc sách vui vẻ. Cám ơn đã ghé thăm và ủng hộ.
Trân trọng,
Se Sẻ Nâu.



P/s : Cũng xin có đôi lời cám ơn bác Gúc Gồ đã giới thiệu bác Wiki, nhờ bác ấy cháu mới hoàn thiện được bản dịch này và giả vờ là mình thông thái y như quyển bách khoa toàn thư… Hehehe…

Link dẫn : 

PHẦN 1



PHẦN 2 : 



PHẦN 3 : 


KẾT