Thứ Tư, 3 tháng 12, 2014

Magic 3.


3.



Arian cầu nguyện mọi lời kinh cầu mà cô có thể nhớ, cả Công giáo lẫn Thanh giáo, nhưng sự vô thức đã áp đảo cô. Sự cấp bách đã vượt trội lên. Nước đã ép không khí ra khỏi phổi cô, ép máu ra khỏi tĩnh mạch cô, ép tuỷ ra khỏi xương cô. Đầu gối cô đập vào ngực với một cú xóc điếng người. Cô văng mạnh tới trước, chuyển động choáng váng quay cô tít mù cho đến khi cô sợ rằng cổ cô chắc chắn sẽ bị gãy.
Áp lực đã thắng trong một động năng không ngừng nghỉ. Rồi tiếng ầm ĩ inh tai của thuỷ tinh vỡ vây bọc cô. Sự va chạm đã cắt đứt dây trói của cô, cho cô tự do. Tự do hít thở. Tự do quấn những ngón tay quanh chiếc cán chổi thân thuộc, yêu dấu. Tự do bay vút lên cao.
Arian mở mắt và thấy bản thân đang ngồi vững vàng trên cây chổi, bay cao trên những cuộn mây lãng đãng. Sợi chuỗi bùa hộ mạng vẫn quấn quanh những ngón tay đang râm ran của cô. Những lớp váy cô đang mặc bay phấp phới phía sau cô, khô đi nhanh chóng trong làn gió mát lành. Trời đêm tối đen như mực đã tan dần trong ánh ban mai huy hoàng vui vẻ. Sự nhẹ nhõm của cô, khi khám phá ra rằng cô vẫn còn sống, mãnh liệt đến mức, trong một thoáng, cô quên mất nỗi sợ hãi. Cô hò reo trong niềm vui chiến thắng, thưởng thức nhạc điệu của giọng cô trước khi chúng lẫn vào trong gió.
Cây chổi xiên một góc xuống phía dưới, tách khỏi những cụm mây để lộ ra một dải lờ mờ của đất và nước. Nếu đầu gối của Arian không bận kẹp chặt vào cây chổi, hẳn là chúng sẽ va vào nhau trong nỗi kinh hoàng.
Vùng nông thôn Massachusette lổn nhổn đá mờ dần. Thay vào chỗ của nó là bức tường thành sững sững của một ngọn tháp trải dài cho đến mép nước.
“Ôi, Chúa lòng lành. Mình đã chết.” Arian nói khẽ, nhăn mặt với nỗi thất vọng.
Công trình kiến trúc với thép và kính khổng lồ đó chẳng giống chút nào với cổng vòm ngọc trai của thiên đường mà cô vẫn mường tượng một cách lạc quan. Xa, thật xa bên dưới, vô số những chiếc xe nho nhỏ màu vàng trườn dọc theo một mạng lưới những con đường phân nhánh đan rối vào với nhau.
Arian nhắm mắt và siết chặt cán chổi, cô hoa mắt và choáng váng bởi độ cao không thể tưởng tượng được. Nếu, may ra, cô sai về chuyện chết chóc và lấy một cú bổ nhào xuống tương tự như cô đã làm trong khoảng rừng thưa, chiếc chổi sẽ có đôi chút hữu dụng hơn là chỉ quét thành đống mớ xương nát vụn của cô.
Cây chổi nghiêng mạnh sang bên phải. Đôi mắt của Arian chấp chới mở ra và cô thấy bản thân đáng hướng thẳng vào miệng của một ống khói lớn. Ré lên hoảng hốt, cô kéo giật cán chổi lên ngay khi bị bao phủ bởi một đám khói.
Cô trồi lên khỏi đám sương mù xám xịt, ho dữ dội và đập vào không khí bằng bàn tay tự do của cô. Có vẻ như cô đã chẳng làm được gì nhiều để chỉnh hướng đi của cây chổi. Nó khăng khăng tiến thẳng đến một trong những toà tháp cao nhất, một khối cấu trúc toả sáng lung linh tự đề cao mình như một chiếc kim bóng mượt chọc vào trong lớp lụa trời.
Tập trung dũng khí, Arian kéo giật nút ràng buộc thô sơ trên sợi dây chuyền và trượt tấm bùa hộ mạng qua đầu trước khi hất ra phía sau mớ tóc ẩm ướt theo kiểu cô nghĩ là thích hợp với một nữ phù thuỷ đang bay. Bất kể cô sẽ được chào đón tại đích đến cuối cùng bởi thánh Peter*, hoặc ác quỷ Beelzebub*, cô từ chối đi đến đó với sự run rẩy kinh hãi. Tuy vậy, mất năm giây trước khi cô nhận ra đám rễ cứng của chiếc chổi đang bốc cháy, và mười giây trước khi con rồng sà xuống khỏi những đám mây và bất ngờ tấn công cô với một tiếng gầm khủng khiếp.
(*Peter : Vị Thánh gác cửa Thiên Đàng, là môn đồ lớn nhất của Chúa Jesus - Nhớ theo kinh thánh-Sẻ)
(*Beelzebub : Một trong 7 chúa tể của Địa ngục biểu trưng cho 7 tội lỗi cơ bản, bao gồm : Lucifer-kiêu căng, Beelzebub-Ghen tị, Sathanus-Giận dữ, Abaddon-lười biếng, Mammon-tham lam, Belphegor-tham ăn, Asmodeus-dâm dục.)



Copperfield buộc phải la hét qua tiếng ầm ĩ inh tai của động cơ trực thăng bay sát bãi cỏ bao quanh cao ốc Lennox được gọi một cách khiêm tốn là sân sau. “Bây giờ cậu vui rồi chứ, Tristan? Cậu đã kiếm được cho mình một gánh xiếc truyền thông trung thực đầy thiện ý và cậu là người chỉ đạo biểu diễn duy nhất trên sàn diễn.”
Từ chiếc ghế bọc da phía sau bàn hội nghị trên khán đài, Tristan gạch một đường tăm tối ngang qua một cái tên khác và gọi to, “Người kế tiếp.”
Một người dự thi đã được đánh dấu đang mặc một chiếc áo trong nhà in hoa sải bước tới trước, vẫy một chiếc áo len màu hồng nhỏ xíu. “Nếu ngài cho tôi mười hai giờ, Mr.Lennox, tôi thề là tôi sẽ tìm thấy con chó Bắc Kinh thất lạc là chủ nhân chiếc áo len này.”
Người phụ nữ càu nhàu khi một phóng viên huých bà ta tránh đường để ấn chiếc micro vào mặt Tristan. “Có thật không, thưa ngài Lennox, rằng một computer mô phỏng đã xác nhận Richard Rastasi của Iraq uốn cong cán muỗng một phần ngàn tỷ centimeter mà chỉ dụng sức mạnh của trí não?”
Tristan bình tĩnh đẩy chiếc micro sang một bên. “Người kế tiếp.”
“Nhưng tôi đã tìm thấy chùm chìa khoá xe hơi của chồng tôi bên dưới tấm nệm ghế dài và chúng đã thất lạc trên một năm rồi!” Người dự thi nguyền rủa trôi chảy bằng tiếng Yiddish* khi trợ lý của Tristan nhẹ nhàng đưa bà ta đi khỏi.
(*Yiddish : tiếng Đức cổ của người Do Thái ở Trung và Đông Âu – Sẻ)
Copperfield chà xát hai bên thái dương nhức nhối. “Tớ biết tớ nên uống năm viên aspirin liều cao trong sáng nay thay vì ba.”  Một thầy tu Ấn Độ vấn khăn xếp mang đến một cái rổ, một con rắn hổ mang và một ống sáo, lướt lên trước đám đông. Copperfield rên rỉ. “Hay có lẽ nguyên cả chai Prozac*.”
(*Prozac : Một loại thuốc chống trầm cảm và rối loạn thần kinh thể suy nhược – Sẻ)
Anh bắn lên bầu trời một cái nhìn bực bội. Tiếng gầm gừ không thường xuyên của những chiếc trực thăng chắc chắn không giúp gì cho đầu anh. Cả hai chiếc trực thăng của báo Global Inquirer (Người Đưa Tin Toàn Cầu) và Prattler (Người nhiều chuyện) đều đảo vòng vòng giống như những con kền kền từ lúc bình minh, những tay săn ảnh treo người ra bên ngoài những cánh cửa mở, ống kính chụp ảnh từ xa cầm trên tay. Anh tự hỏi không biết kẻ nào ở Prattler đã nghĩ mình hóm hỉnh khi để cho chiếc trực thăng của họ được sơn vẽ tương tự như một con cá mập cận thị như thế.
“Người kế tiếp.” Lời yêu cầu thờ ơ của Tristan vang lên. Cây bút của anh đã hạ xuống với một đường gạch có phương pháp khi tay thầy Ấn Độ lẩn đi. Một ánh đèn nháy lên đột ngột, gây ra một tiếng xì xì buồn thảm từ con rắn hổ mang.
“Bằng cách nào cậu có thể điềm tĩnh được như thế?” Copperfield hỏi. “Sự tín nhiệm của cậu vùi trong đám giẻ rách này rồi. Văn phòng phía trước đã có những cuộc thăm viếng từ đại lý đặt chỗ trên Ricki Lake’s*, America’s Oddest People*, và bốn cổ đông chính đang đề nghị đưa đến những nhà trị liệu của họ.”
(*Ricki Lake’s : Một chương trình truyền hình thể loại Talk Show, phát sóng quốc tế, do Ricki Pamela Lake- nữ diễn viên Mỹ 24 tuổi chủ trì từ năm 1993-2004 : Hãy nói chuyện với Ricki Lake)
(*America’s Oddest People : Người quái dị nhất nước Mỹ. Cụ Google nói hẻm có chương trình này, chỉ có America’s Oldest People, chắc anh Cop nhà ta nói đùa thôi, anh này luôn dí dỏm rất đáng yêu mừ.)
Với đôi chân đặt trên tấm đệm của người viết tốc ký, Tristan vẽ nguệch ngoạc một con chó Bắc Kinh trông giống một đám mây nhiều hơn, trước khi bắn vào Copperfield một cái liếc tinh quái. “ Có lẽ cậu nên xem xét nhóm bác sĩ trị liệu đó. Trông như thể cậu cần sử dụng một vài sự phân tích tâm lý của họ.”
Copperfield giơ hai tay lên với vẻ thất vọng. “Oh, tha lỗi cho tớ, nếu việc trải qua cả đêm trên sàn nhà, trong tủ quần áo của cậu, đã làm trầm trọng thêm chứng loạn thần kinh của tớ.”
Tristan nhún vai, nhìn bất kỳ thứ gì ngoại trừ người dự thi. “Tớ nghĩ cậu biết lối thoát khẩn cấp ở đâu mà.”
“Có một chút khó khăn khi tìm kiếm trong bóng tối. Nếu cậu không gởi Sven đến để tớ ra ngoài trong sáng nay, tớ sẽ vẫn còn đang dò dẫm xuyên qua mớ pajamas lụa của cậu. Và có người đàn ông nào lại thật sự cần đến năm mươi bộ pajamas lụa cơ chứ?”
Ánh mắt của Tristan lướt qua ngực của Copperfield. Một nụ cười ranh mãnh làm cong bờ môi anh. “Cà vạt đẹp đấy. Nó đồng bộ với mắt cậu.”
Cuộc trao đổi của họ bị gián đoạn bởi sự náo động chói tai gần dãy thang máy bằng kính. “Buông tôi ra, cái đồ Visigoth* nhà anh!” Một giọng nói có giáo dục la lên. “Anh đã làm nhăn áo choàng của tôi rồi.”
(*Visigoth là một trong hai nhánh của người Goth, nhánh còn lại là người Ostrogoth. Những bộ tộc này thuộc nhóm người Germanic đã phát triển rộng khắp Đế chế La Mã trong Thời kỳ Di cư – thế kỷ thứ IV. Wikipedia)
Khi một hình dáng đội nón chóp cao thoát khỏi người bắt giữ và chạy đến khán đài. Tristan ngồi dựa lưng vào ghế, sự điềm tĩnh thần kỳ của anh phát triển còn đáng sợ hơn. Một tiếng suỵt thiếu tự nhiên phủ qua đám đông. Các tay phóng viên len lên gần hơn, lỗ mũi giật giật giống như những con thú ăn thịt đánh hơi thấy mùi tanh của đồng trong máu tươi.
Không bỏ phí một khán giả tiềm năng, người mới đến lấy đi chiếc nón chóp hào nhoáng, để lộ một bờm tóc sư tử trắng như tuyết. “Wite Lize, ảo thuật gia dị thường, người phục vụ hèn mọn nhất của ngài.” Ông ta gõ nhẹ đầu chiếc gậy chống; một bó hoa cẩm chướng đột ngột hiện ra. Trò lừa bịp xưa cũ được chào đón bởi một sự tán thưởng thận trọng hời hợt.
Những chiếc trực thăng đã rút lui trong chốc lát và lời của Tristan đập vụn sự yên lặng căng thẳng như những mảnh thuỷ tinh. “Đưa ông ta ra khỏi đây.”
Được chỉ huy bởi Sven - một người Na-uy lực lưỡng mà sự nghiệp diễn viên đang ươm chồi đã bị cắt ngắn một cách bi thảm khi anh ta bị đuổi khỏi Baywatch* bởi sức ép không thể cưỡng lại phải nhìn chằm chằm một cách đáng yêu vào camera - quân đoàn vệ sĩ có mặt khắp nơi của Tristan chuyển vào trong. Họ có thể phân biệt được trong đám đông bởi chỗ phồng lên đáng ngờ bên dưới chiếc áo khoác màu xám và chiếc kính mát Raybans theo thông lệ mà họ đang đeo bất chấp bầu trời phủ đầy mây.
(*Baywatch là series phim hành động ăn khách của Mỹ được sản xuất từ năm 1989, do đạo diễn Douglas Schwartz chỉ đạo sản xuất. Phim do hãng The Baywatch Company kết hợp với Tower 12 ProductionsTower 12 Productions đầu tư sản xuất và trình chiếu trên sóng truyền hình của hơn 140 nước trên thế giới với khoảng 1,1 triệu người xem. Phim có tổng cộng 242 tập, được trình chiếu suốt 10 mùa chiếu từ 1989 – 1999)
Kẻ xâm nhập ve vẩy một ngón tay quở trách vào họ. “Tôi sẽ không làm điều đó nếu tôi là các ông, thưa các quý ông. Theo lời báo chí, cuộc thi này mở cho tất cả mọi người. Tôi có quyền với một triệu dollar đó nhiều như bất kỳ ai. Nếu ngài gây cho tôi nỗi đau đớn về mặt tinh thần, tôi sẽ phải gọi cho luật sư của tôi.” Ông ta lục lọi quanh chiếc mũ chóp cao, kéo ra một con thỏ đang run rẩy trước tiên, rồi tới chiếc điện thoại di động từ bên trong chiếc nón. Một cô gái nhỏ bám chặt lấy tay mẹ và kêu ré lên với sự vui thích.
Những ngón tay của Tristan giật nhẹ, bật lách tách chiếc bút hai lần.
Copperfield mỉm cười, thích thú với sự chưng hửng của xếp anh. “Ông ta ghi điểm đấy. Thêm một vụ kiện sẽ chỉ phát sinh thêm nhiều sự quảng cáo tiêu cực thôi.”
“Ông ta có thể ghi điểm, nhưng chúng ta có một lệnh ngăn trở. Cậu thích tớ lệnh cho Sven bắn ông ta hơn à?”
“Sven,” Copperfield gọi to, mường tượng sẵn một tiêu đề báo ghê tởm. “Anh vui lòng hộ tống Mr. Lize đến lối ra gần nhất nhé?”
Cô gái nhỏ bắt đầu la hét khi những người vệ sĩ nắm giữ cánh tay của nhà ảo thuật .
“Cháu phải tha thứ cho Mr.Lennox, nhóc à.” Lize ngâm nga. “Ngài ấy không thích khi cháu làm cho mọi thứ hiện ra đâu.” Vẻ lễ độ giả tạo của hắn bị vỡ vụn khi họ kéo lê hắn hướng đến lối ra. “Mày chỉ biết làm cho mọi thứ biến mất, đúng không, Lennox?” Đẩy gương mặt vào camera TV của phóng viên, hắn gầm gừ, “Hỏi hắn ta về con trai tôi đi. Hỏi hắn làm cách nào khiến con trai tôi biến mất suốt những năm đó.”
Sự buộc tội quen thuộc tiếp tục ngân lên trong không khí một lúc lâu sau khi Wite Lize đi khỏi, nhưng Tristan chỉ đơn giản búng một tờ giấy mới trên tấm đệm của người tốc ký, chọn một cây bút mạ vàng hiệu Cross* từ túi áo trên bộ suit của anh, và lầm bầm, “Người kế tiếp.”
(*Cross pen là thương hiệu bút nổi tiếng của Mỹ được sản xuất bởi AT Cross Company từ 1846 tại Providence, Rhode Island, NY. Công ty này cũng sản xuất vài loại văn phòng phẩm khác, đồng hồ và kính đọc sách)
Gần như nhẹ nhõm khi tiếng thình thịch uể oải của một chiếc trực thăng quay trở lại đã phá vỡ sự im lặng ngượng nghịu. Người mẹ khuỵu gối xuống để vỗ nhẹ lên má cô con gái, bắn cho Tristan một ánh mắt quở trách. “Nào, cưng, mẹ đã nói với con trước khi chúng ta rời khỏi nhà, rằng làm gì có pháp thuật chứ. Mr.Lennox chỉ đơn giản là có nhiều tiền hơn người bình thường…”
Phần còn lại của câu nói bị chìm khuất bởi một tiếng thét tột cùng sợ hãi, inh tai đến mức chọc thủng nhịp điệu rền rĩ của những cánh quạt trực thăng.
Cô gái nhỏ chỉ lên trên trời, một nụ cười toe toét phô hàm răng sứt làm biến đổi gương mặt lem nhem nước mắt của cô bé. “Nhìn kìa, Mommy – Phù thuỷ độc ác miền viễn Tây kìa!”
Tristan đứng lên. “Cái quỷ gì…?”
Copperfield cũng đang bận há hốc miệng trước vẻ mặt sững sờ của xếp anh đến nỗi bỏ lỡ việc nhìn lên cho đến khi đám đông buột ra một tiếng hổn hển tập thể.
“Thật lạ thường,” Tristan lầm bầm, dõi theo đường dẫn thất thường của vệt khói ngang qua bầu trời. “Tớ không nhớ đã cho phép một máy bay quảng cáo.”
Hàm của Copperfield lại rớt xuống lần nữa khi anh nhận ra vệt khói và sự cháy dở đang đang toả ra từ một chiếc chổi bay. Một chiếc chổi bay được lái bởi một cô nàng ngăm ngăm nhỏ nhắn có tiếng thét đáng sợ gần như inh tai.
Copperfield nhăn mặt khi cỗ máy kỳ dị bay vài đường nhào lộn vụng về quanh chiếc trực thăng, suýt chút nữa thì biến mất trong những cánh quạt đang quay. Không ai nghĩ đến chuyện chụp hình, tay săn ảnh của tờ Pratter nhoài người ra bên ngoài hòng có một cú bấm máy cận cảnh chỉ để làm rơi chiếc máy ảnh và túm chặt sợi đai an toàn của anh ta khi chiếc trực thăng chuyển hướng để tránh va chạm vào đỉnh tháp cao vút của cao ốc Chrysler chỉ trong đường tơ kẽ tóc.
Lựa chọn sự thận trọng hơn là dũng cảm, chiếc trực thăng lui ra xa. Một sự rơi kỳ lạ chiếm giữ cây chổi, làm nó chậm lại đến mức gần như trôi lơ lửng. Rồi nó bỗng lật nhào giật cục hướng đến sân sau, tiếng la của người điều khiển tăng âm lượng lên với mỗi cú bập bênh. Những tiếng hét kết thúc với một tiếng thịch báo điềm gở.
Tristan là người đầu tiên đến bên cô. Thậm chí trước cả khi Copperfield có thể hồi phục từ cú choáng váng của anh và nhảy xuống khỏi khán đài. Tristan đang quỳ gối trên cỏ, đầu người lạ được nâng niu trong lòng anh.
Từ sự vội vàng khi Sven khuỵu xuống trên một gối, hất ra sau bờm tóc kẻ sọc bởi ánh nắng, và kéo khẩu 9-ly bóng mượt của anh ta ra, Copperfield cho rằng người vệ sĩ đã chờ đợi chính xác một cơ hội mà sự chuyên nghiệp của anh ta sẽ được lên phim toàn bộ như thế. “Bước khỏi cô ta, thưa ngài,” Anh ta yêu cầu, làm như thể  Schwarzenegger* trong thời kỳ hoàng kim của ông ấy. “Cô ta có thể là một kẻ ám sát.”
 (*Arnold Alois Schwarzenegger : Vận động viên thể hình, diễn viễn điện ảnh nổi tiếng và cũng là chính khách Công Hoà người Mỹ gốc Áo, từng làm thống đốc thứ 38 của California. Có lẽ ai cũng từng ít nhất một lần coi phim ông ấy đóng rồi: cơ bắp, hơi ngố ngố và hài hước, phim luôn có tính chất phá huỷ rất tốn kém và gay cấn. Ngoài White Lies, thì mình cũng khoái Terminator mà ổng đóng.)
Xếp của anh ta chẳng tỏ ra dấu hiệu gì là có nghe thấy lời cảnh báo, cũng chẳng có ý định để ý đến chúng. Với sự dịu dàng mà Copperfield đã quên mất là anh có, Tristan chải lọn tóc xoăn ra khỏi vầng trán xanh xao của người phụ nữ.
Đôi mi cô rung rung hé mở, để lộ đôi mắt rực rỡ mơ màng. Cô chớp mắt nhìn Tristan, biểu hiện của cô thật kỳ lạ, sau đó nhấc bàn tay đang run rẩy lên để chạm vào gò má của anh. Một nụ cười xiên lệch uốn cong vành môi cô. “Chúa nhân từ. Anh hẳn là Lucifer rồi.”
Khi những ngón tay cô cong vào trong lòng tay và mắt cô chấp chới khép lại, Tristan nhấc ánh nhìn chằm chằm bất lực của anh lên,  Copperfield thoáng thấy một cảm xúc chao đảo mà anh đã không thấy trong mắt của bạn anh trong hơn một thập niên vừa qua.
Kỳ diệu.





Thứ Ba, 2 tháng 12, 2014

Magic 2.


2.



Bước chân của Arian không nao núng cho đến khi họ tiến vào con đường đầy bùn đứng xúm xít một đám đông dân làng. Marcus đẩy nhẹ cô vượt qua Charity Burke, cô ta đang đứng với đôi tay của bà mẹ trên vai, ánh mắt ngoảnh đi. Để che dấu đi ánh lấp lánh của nỗi hổ thẹn chăng ? Arian tự hỏi.
“Cúi đầu xuống, đồ phù thuỷ! Mày đã bị vạch trần! Hãy ăn năn về sự đồi bại của mày!”
Arian dừng bước khi nghe tiếng la khó chịu của Goody Hubbins, cô bắt giữ ánh mắt kết tội của bà cô già nhăn nheo với mái đầu ngẩng cao.
Goody Hubbins lùi bước cách xa cô. “Con phù thuỷ đang nguyền rủa tôi! Tôi không thể thở! Cứu tôi! Hãy nhốt nó lại!” Bắm chặt lấy những nếp da lòng thòng trên cổ họng, bà ta ngất đi trong tay của một goá phụ đứng phía sau.
Trước khi Arian có thể bênh vực cho bản thân, Cảnh sát Ingersoll đã chụp lấy cô khỏi tay của Marcus. Một người đàn ông đơn độc đứng trước túp lều phục vụ như một nhà ngục cho vùng thuộc địa, chiếc mũ cao của hắn ta che khuất ánh nắng. Arian chợt có thôi thúc muốn khạc nhổ vào mặt hắn khi cô nhận ra Đức cha Linnet đáng tôn kính. Hắn lướt tới mở cửa căn lán để Ingersoll có thể dồn cô vào bên trong.
Arian là người duy nhất nghe tiếng thì thầm rin rít của vị linh mục. “Trao cho ta linh hồn của nàng, và ta sẽ cứu nàng.”
Cánh cửa đóng sầm lại, nhốt cô vào trong bóng tối.
Arian run rẩy, chiến đấu với cơn cuồng loạn. Những cọng rơm nhớp nháp được rải trong căn sà lim hẹp bốc mùi nồng nặc của thứ gì đó mốc meo đang kéo rê và xột xoạt dọc theo những bức tường. Một tiếng ho khan vang lên phía sau cô. Arian xoay quanh, nheo mắt nhìn vào bóng tối và thấy một phụ nữ nhỏ bé với mái tóc dài, tết lại đang ngồi chồm hổm trong góc.
“Đừng sợ, cô gái. Ta là một tên trộm, không phải kẻ giết người. Cô hẳn là cô phù thuỷ trẻ. Ta đã nghe họ nói về cô.” Arian nhận ra rằng bà ta cũng có thể nghe những giọng nói cất cao của dân làng trong quảng trường. Âm r du dương của người phụ nữ già hoà lẫn trong tiếng khúc khích nữ tính. “Họ chẳng yêu mến ta nhiều hơn gì cô. Họ sẽ đánh Becca già trong kho hàng vào buổi sáng… hoặc treo cổ ta lên.”
Không khó để Arian hình dung người phụ nữ Scots đang run rẩy này sẽ kết thúc trong ngục như thế nào. Bất chấp việc lẩn tránh sự ngược đãi bởi chính những kẻ cuồng tín của mình, những người Thanh Giáo rất ít khoan thứ với những kẻ không chia sẻ tầm nhìn hạn hẹp của họ với thế giới. Trước khi Arian có thể trầm ngâm về việc chia sẻ số phận nhiệt ngã của người phụ nữ, cánh cửa đung đưa mở ra để lộ Marcus và Linnet. Becca lẩn vào trong đám cỏ khô.
Marcus xiết chặt chiếc nón của ông trong tay. “Đức cha tốt lành đủ khoan dung để trao cho chúng ta sự giúp đỡ của ông ấy.”
“Thật là cao quý làm sao.” Arian trừng mắt vào Linnet, cảm thấy như thể cô chẳng còn gì để mất.
Marcus bỏ lỡ nụ cười mỉm xấu xa của người đàn ông. “Nào, con gái. Ống ấy đủ tử tế để đề nghị với con một mái nhà trong thời gian cần thiết của con.” Một sự ngờ vực kinh tởm bén rễ trong trí Arian. “Ông ấy đề nghị đón nhận con và xua đuổi ma quỷ đã chiếm hữu con.”
Linnet mỉm cười với vẻ nhân đức tử tế. “Tôi chỉ muốn noi gương một đồng sự của tôi ở Boston – Đức cha Cotton Mather. Ông ấy vừa mở cửa căn nhà của chính mình cho những cô gái trẻ bị chiếm hữu bởi những cơn choáng ngất lạ thường.” Cô dập tắt một cơn run khi đôi mắt đói khát của hắn rà soát cô. “Với tất cả sự khiêm tốn, tôi phải nói rằng, thật lôi cuốn đối với một người đàn ông mộ đạo để chấp nhận một thách thức như thế.”
Mascus cười rạng rỡ. “Nếu con đồng ý, con gái, chúng ta sẽ trình bày trường hợp của chúng ta trước dân làng. Đức cha tốt lành sẽ dùng ảnh hưởng của ông ấy để thuyết phục họ theo phe chúng ta. Con nghĩ gì về hành động khoan dung của ông ấy?”
Arian nhắm mắt để khỏi nhìn thấy gương mặt đầy hy vọng của Marcus. “Con nghĩ,” Cô nói êm ái, “Đức cha kính mến có thể cút thẳng xuống địa ngục đi.”
Miệng của Marcus trễ xuống. Quai hàm của Linnet nghiến lại, cử động nhịp nhàng đó kéo căng làn da hắn. Arian nghe thấy tiếng xào xạc mơ hồ từ đám cỏ khô phía sau cô.
Linnet túm lấy cổ áo của Marcus và đẩy ông về phía cửa. “Trốn đi, ông già tử tế. Đó là Satan đang nói thông qua đứa trẻ bướng bỉnh này. Ông hẳn đã không thầm biết đến một sự hư hỏng như thế.”
Marcus ngần ngại đi ra ngoài. Linnet đóng sầm cánh cửa và lao đến Arian, mắt hắn ta hẹp lại. Cô khoá cứng đầu gối, từ chối để chúng xụm xuống. Với mọi sự ngưỡng mộ về vẻ ngoài đẹp đẽ của hắn, tại sao Charity Burke chưa từng nhận ra những đường lằn tàn nhẫn đã ăn mòn khuôn miệng dâm dục của hắn nhỉ?
Khuôn miệng đó đang cong lên trong một nụ cười mím chặt trước sự coi thường của cô. “Nàng dám chế diễu ta ư. Nàng có biết điều gì sẽ xảy ra nếu không có sự can thiệp của ta không? Nàng sẽ bị xét xử trước quan toà và bồi thẩm đoàn. Nếu bị quy tội phù thuỷ, nàng sẽ bị treo cổ.” Lưng bàn tay hắn trườn lên ve vuốt gò má cô. “Thật đáng hổ thẹn khi da thịt đáng yêu như thế này phải bị tan chảy trong lửa địa ngục.”
Cô lùi lại tránh khỏi sự động chạm của hắn. “Ông sẽ thưởng thức ngọn lửa địa ngục đó rất lâu trước khi tôi ở đó, thưa ngài. Ông không có bằng chứng nào để kết tội tôi hết.”
Tiếng cười lục cục trầm sâu của hắn khiến cô mất can đảm. “Ồ, không ư? Dân làng đã xem xét bằng chứng của ta khi chúng ta nói chuyện. Họ có trong tay quyển sách viết nguệch ngoạc như trẻ con những vần điệu mà họ tin là thần chú, vài chiếc lọ kỳ dị, và một cây chổi bằng cây liễu gai chắc chắn.” Hắn tiến tới bên cô, đẩy cô lùi sát vào tường, giọng hắn êm ái một cách dối trá. “Dĩ nhiên, tất cả bọn họ đều biết nước Pháp có nhiều nhược điểm lôi cuốn Satan hơn, bởi vì bản chất đen tối và tội lỗi của họ… sự đói khát vô độ của họ…”
Khi ông ta vươn tay đến cô, Arian quay mặt đi, da cô sởn gai ốc trước viễn cảnh sự động chạm của hắn.
“Ta cần nàng, Arian,” Hắn thì thầm khàn khàn. “Ta sẽ xới tung cả thế giới lên vì nàng.”
Cô hổn hển trước sự động chạm khi hắn thọc bàn tay vào trong vạt áo lót của cô. Bàn tay đó xuất hiện trở lại khi nó nắm chặt lá bùa ngọc lục bảo. Hắn làm đứt dợi dây chuyền bằng một cú vặn đơn giản, rồi nâng niu miếng ngọc trong lòng bàn tay, đôi mắt hắn thật khó dò thấu.
Arian chụp nó lại. “Trả lại đây, đồ độc ác! Ông không có quyền!”
Hắn đung đưa nó ra ngoài tầm với của cô, đôi mắt hắn lấp lánh với trò tinh quái nham hiểm. “Nàng sẽ không thể bay khỏi ta được nữa, phù thuỷ nhỏ.” Thả tấm bùa vào túi, hắn kéo cánh cửa mở ra. “Đừng buồn phiền, quý cô Whitewood. Nàng sẽ bị treo cổ chỉ khi đám đông bắt được nàng trước.”
Cánh cửa đóng sầm vào mặt cô. Arian trừng mắt nhìn nó, sự tuyệt vọng làm nhụt đi cơn giân dữ của cô. Bằng cách đánh cắp tấm bùa, cô sợ rằng hắn đã cướp đi bất kỳ hy vọng trốn thoát nào của cô.
“Tội lỗi nào khiến cô lật nhào thế, cô gái?” Một giọng nói vang lên từ góc phòng.
Arian giật mình, cô đã quên rằng cô không ở một mình. Cô trượt xuống chân tường, chống khuỷu tay trên đầu gối, và vùi cằm vào trong đôi bàn tay đang run rẩy. “Tôi đã bay vào ngày trăng tròn.”


Arian đứng trên lan can của một toà tháp hùng vĩ, mặc chiếc đầm màu trắng sáng lấp lánh và vẫy  những thuộc cấp yêu chuộng của cô. Họ nâng cao giọng trong sự ca ngợi về vẻ đẹp và năng lực của cô như một nữ phù thuỷ. Khi cô thả cho họ một nụ hôn độ lượng, sự hợp xướng nịnh hót của họ vống lên thành một tiếng gầm khủng khiếp. “Giết đồ phù thuỷ!”
Đôi mắt của Arian đột ngột mở ra khi giấc mơ tan dần. Những bước chân đang tiến đến làm rung chuyển căn lán tí hon. Cô bật dậy, lờ đi sự phản kháng của những bắp cơ bị vọp bẻ vì đã cuộn người như một trái banh phòng vệ kể từ khi Linnet đóng sầm cánh cửa vào niềm hy vọng của cô vài giờ trước.
Cánh cửa đung đưa mở ra. Hai người đàn ông xuất hiện, những bờ vai vạm vỡ của họ in bóng trong ánh trăng. Arian nuốt nghẹn lại tiếng thét kinh hoàng. Khi họ túm lấy cánh tay cô và đẩy cô qua cửa, cô thoáng thấy một bóng người nhỏ nhắn lẻn vào trong đêm tối.
Những người đàn ông kéo lê cô qua con đường hẹp đến với một đám đông đang hò reo om sòm. Một cú giật hằn học trên tóc cô mang đến những giọt lệ nhức nhối trong mắt. Cô chớp mắt xua chúng đi, chỉ để thoáng thấy gương mặt nhăn nhúm của Goody Hubbins. Bàn chân cô trượt đi trong một sự kháng cự vô ích khi họ bỏ lại ngôi làng đến vùng thôn dã, đổi hương vị mặn mòi của biển cả lấy sự đe doạ ngột ngạt của một cơn bão đang tiến đến. Không báo trước, Arian tống tháo dạ dày của cô vào trong bãi cỏ đẫm sương.
“Bây giờ hãy bay đi thử xem, đồ phù thuỷ bướng bỉnh!” Một giọng nói phía trên cô rít lên.
Arian chầm chậm nhấc chiếc đầu đang nhức nhối của cô lên. Một đôi giày có khoá nằm ngổn ngang một cách ngạo mạn trong đám cỏ chỉ cách mũi cô vài inch. Lách khỏi những cánh tay đang ngăn trở mình, cô trườn đi bằng chân để đối mặt với Linnet. Ống tay áo của hắn cuộn lên như thể hắn chuẩn bị để làm thứ gì đó không ít hơn công việc của Chúa. Sự khiếp đảm trườn xuyên qua Arian khi cô nhận ra khe nứt đen tối đang cắt lát bóng đêm đàng sau hắn.
“Mang đến một ngọn đuốc,” hắn ra lệnh, “để chúng ta đặt cô phù thuỷ này vào thử thách.”
Cơn thịnh nộ của Arian truyền vào cô sự liều lĩnh. Cô túm lấy cổ áo hồ bột của Linnet và kéo hắn xuống ngang tầm mắt cô. “Ông đã làm gì cha dượng của tôi rồi? Ông ấy không bao giờ cho phép ông làm điều này.”
Linnet bắt lấy cổ tay cô, siết chặt chúng cho đến khi cơn đau buộc cô phải buông lỏng tay. “Ông ấy đang trên đường đến Boston để tìm một quan toà cho buổi xử án của cô.”
“Tại sao vậy, cái đồ xảo trá nhà ông đã…”
“Trói cô ta lại.” Hắn chỉ thị.
Một chàng trai quấn một sợi dây dài quanh tay cô trong lúc một người khác quỳ xuống để cột chân cô.
Linnet nhảy lên một tảng đá, cầm đuốc trong tay. Một tiếng suỵt khó chịu rơi trên đám đông. “Tất cả các vị đã quen thuộc với tính hữu hiệu của cách thử thách trong nước rồi. Chúng ta sẽ ném cô gái này vào trong ao. Nếu cô ta nổi, Satan đã cứu cô ta. Nếu cô ta chìm, cô ta vô tội.”
“Và chết đuối trước khi những tên đần các người đủ nhanh để tuyên bố điều đó,” Arian thét lên, vùng vẫy chống lại những sợi dây trói cô.”
“Làm cô ta im lặng. Cô ta sẽ có lời nói của cô ta,” Linnet yêu cầu. Chàng thanh niên bịt bàn tay đẫm mồ hôi của cậu ta qua miệng cô. Arian cố không nôn oẹ. “Cha dượng của chính cô gái này đã đến tìm tôi với những giọt lệ trong mắt và thú nhận rằng cô ta đã cố giết ông ấy bằng cách thả giá nến xuống trên đầu ông ấy trong lúc ông ấy cầu nguyện cho linh hồn bất diệt của cô ta.”
Đám đông hổn hển trong sự khiếp sợ.
Giọng của Linnet tăng cao. “Tuy nhiên, chiếc giá nến gần như cướp đi sự sống của người đàn ông tử tế chân thành ấy đã không được vận hành bằng bàn tay của con người. Thật vậy, nó nhảy múa trong không khí bằng ý muốn của riêng nó trong khi con điếm của Satan này cười trong sự hài lòng.”
Goodwife Burke thét lên và lả đi trong cánh tay chồng. Arian đảo tròn mắt trong sự khinh ghét và cắn ngập răng cô vào bàn tay của chàng trai. Cậu bé kêu ăng ẳng và đẩy cô ra xa, nhưng trước khi cô có thể chạy trốn, Linnet đã bật khỏi tảng đá và quấn một cánh tay quanh eo cô.
Hơi thở của hắn thiêu đốt tai cô khi hắn la lên “Nói đi, phù thuỷ! Nói những gì có thể biện hộ cho cô. Hãy từ chối rằng những thứ đồ chơi của quỷ này thuộc về cô.”
Arian quan sát một cách bất lực khi vài phụ nữ diễu hành qua cô, phô diễn những chiếc lọ nhỏ của cô, quyển sách cũ rích của cô, và những loại thảo mộc quý giá mà cô đã trải qua nhiều năm tìm kiếm trong rừng. Đi cuối cùng trong hàng là Goody Hubbins, đang vẫy vẫy một cách đắc thắng chiếc chổi liễu gai.
“Tôi đã chứng kiến người phụ nữ này đang cưỡi dạng chân trên thứ dụng cụ quỷ dữ này bằng chính mắt tôi,” Linnet la lớn. “Lái ngang qua mặt trăng đến nơi hẹn với chủ nhân của cô ta.”
Một người đàn ông la lên gì đó về giao cấu với quỷ dữ đã khiến gò má của Arian đỏ rực lên. Những lời chế nhạo và tiếng cười đã cổ vũ cho lời lẽ của ông ta. Những ngọn đuốc thả những hình bóng đe doạ trên những gương mặt thân quen, làm chúng biến dạng thành những kẻ tàn bạo như trong ác mộng. Bị vùi dập bởi nỗi kinh hoàng, Arian đu đưa trong cánh tay của Linnet, ý thức của cô đang bị treo bởi một sợi dây mỏng manh.
Hắn cắm sâu những ngón tay trên vai cô. “Nói đi, phù thuỷ! Tuyên bố sự vô tội của cô đi nếu cô dám.”
Đôi mắt của Arian bật mở khi cơn thịnh nộ chính đáng giữ cô không hạ thấp sự can đảm. Giọng nói trầm sâu của cô ném ra một bức màn thinh lặng qua khoảnh rừng thưa. “Tôi không phải là tôi tớ của Satan! Tôi vô tội!”
“Những thứ đồ chơi của quỷ dữ này thì sao?” Một tiếng hét lớn vang đến. “Cô không thừa nhận chúng được tìm thấy trong phòng của cô sao?”
“Và chúng gây tác hại gì chứ? Một đoạn thơ viết vội ? Một cây chổi quét lò sưởi? Một số thảo mộc tôi sử dụng cho món thịt hầm theo mùa ?”
Một người phụ nữ vẫy vẫy chiếc lọ nhỏ mờ đục trong không khí. “Tôi biết rất ít món hầm được gọi là “lưỡi chuồn chuồn đập vụn”, mà tôi cũng chẳng cần biết.”
Arian đợi những tiếng cười lắng xuống, cằm cô hếch cao, “Tôi thực hành phép thuật trong sáng. Tôi là một phù thuỷ tốt, không phải tôi tớ của Satan.”
Vài người dân làng trao đổi những ánh mắt thiếu chắc chắn.
Linnet ban tặng cho họ một nụ cười khoan dung. “Nhà thờ không công nhận pháp thuật trong sáng. Tất cả pháp thuật đều đến từ Satan và những công bố tội lỗi của người thực hiện điều đó.” Arian đập mạnh những ngón chân của hắn bằng gót chân cô trong cơn giận lôi đình. Linnet bấu cô thật mạnh.
Nếu cô từng có ý định đặt niềm tin vào những năng lực của chính cô, bây giờ đã đến lúc, Arian nghĩ một cách dứt khoát, thả lỏng người dựa vào ngực của Linnet trong sự đầu hàng rõ rành rành.
“Đây là cơ hội cuối cùng của nàng, ma cherie*,” hắn thì thầm. Cô cứng người trong nỗi ngạc nhiên khi hắn trượt vào tiếng Pháp bẩm sinh của cô trơn tru đến nỗi một tiếng nói lắp cũng không có. “Nếu nàng trao gởi bản thân vào trong tay ta, hai chúng ta có thể thống trị thế giới nhỏ bé thống thiết này cùng nhau.” Quay sự chú ý trở lại đám đông và ngôn ngữ trượt trở lại tiếng Anh, hắn hỏi, “Cô có nói thêm điều gì để bênh vực cho mình nữa không, quý cô Whitewood?” (*ma cherie : em yêu - Sẻ)
Arian biết Linnet đang trao cho cô cơ hội cuối cùng. Một cơ hội cuối cùng để lên án pháp thuật của cô và từ bỏ chính mình trong tay hắn. Một cơ hội cuối cùng để bán linh hồn cho một thứ ma quỷ nhiều xảo quyệt hơn bất kỳ thứ quái vật có móng chẻ nào mà những dân làng này khiếp sợ.
“Aye, Tôi có thêm vài thứ buộc phải nói,” Cô la lên một cách táo bạo. “Thời gian hãy dừng lại nhưng xin tiếp tục trôi. Gió hãy nghỉ ngơi nhưng xin tiếp tục thổi.”
Một luồng gió nóng quất qua khu rừng thưa.
Tình yêu không mong, nhưng hãy tiếp tục lớn.” Arian thét lên, chiến đấu với nỗi sợ làm hư chuyện khi không có lá bùa, Cô không có một cơ hội thành công nào. Ngay cả bà ngoại kỳ diệu của cô cũng chưa bao giờ hoàn thành nhiều hơn việc chơi đùa với đám thảo mộc và theo đuổi những thứ đáng ao ước.
Linnet quăng cây đuốc của hắn cho người đàn ông gần đó và kéo lê cô qua đám cỏ cao hướng về cái ao đầy bùn. Giọng Arian tăng cao thành tiếng thét.
Một cánh cửa mở, hãy đóng sầm lại.
Con dao của số phận, xin hãy cắt đi.
Phù thuỷ nói đúng như thế… ngoại trừ…
Ngọn gió tụ tập sức mạnh, thổi tung mái tóc phủ qua gương mặt cô. Một tiếng sấm nổ vang. Ánh sáng chói loà ngang qua bầu trời. Goody Hubbins ném cây chổi vào ao, rồi khuỵu gối xuống, bịt chặt hai tay lên tai.
Arian điên cuồng hít vào một hơi thở cuối cùng khi Linnet nhấc cô lên triền ao ngập nước và đẩy cô vào trong vùng nước giá lạnh. Cô chìm xuống như một hòn đá. Đôi tay cô kéo giật chống lại dây trói. Cô đá văng đôi giày nặng nề, chân cô vướng vào cây chổi trong cuộc tìm kiếm tuyệt vọng một sự ổn định. Cô gắng nhớ phần còn lại của câu thần chú trước khi phổi cô bốc cháy.
Oh, phải. Các thành phần. Với cây lê lư và mắt sa giông, cà độc dược và rễ gừng, móng của Griffin* và tro và bồ hóng. Nhưng làm gì có Griffin trong Gloucester cơ chứ, Arian buồn rầu nghĩ. Trong chừng mực cô biết, chẳng có Griffin ở bất kỳ đâu ngoại trừ trong quyển sách thần tiên lố bịch đó. Và “bồ hóng” thì không thật sự vần với “sa giông” hoặc “rễ cây”, đúng không?
(*Griffin : hay Gryphon, một linh vật có mình, chân và đuôi của sư tử là vua các loài thú;  đầu, cánh và móng vuốt của chim đại bàng là vua của các loại chim, vì thế Griffin biểu trưng cho quyền lực và cao quý, thường canh giữ các kho tàng trong thần thoại Hy-lạp – Sẻ)
Cô đang chìm, chiến đấu chống lại thôi thúc nguyên sơ mở miệng ra và tìm kiếm một hơi thở.
Giá như… cô nghĩ.
Giá như Linnet chưa bao giờ chứng kiến chuyến bay bất hạnh của cô…
Giá như Marcus yêu thương cô đủ để tin cô…
Như thể trong một giấc mơ xa xôi, cô nghe thấy tiếng rống điên cuồng của Linnet và lời lẽ du dương của Becca già, “Cô là một phù thuỷ tốt và tôi là một tên trộm tốt. Cô nắm giữ sự quyến rũ, cô gái. Nó phải thuộc về cô.”
Tiếng bắn toé nước vang vọng trong đôi tai đang kêu ong ong của cô với sự kết thúc trống rỗng. Tấm bùa ngọc trôi lơ lửng qua đôi mắt cô và dạt ra phía sau cô. Cô bắt lấy sợi dây chuyền, bám chặt nó bằng những ngón tay tê cóng.
Giá như…
Miệng cô mở ra theo ý muốn của riêng nó, hổn hển tìm không khí, nhưng chỉ tìm thấy toàn nước.